Chuỗi cung cấp thực phẩm an toàn: góc nhìn kỹ thuật

Theo ý kiến GS. Nguyễn Thơ, sau nhiều năm thực hiện cuộc vận động sản xuất theo VietGAP, chương trình tốn kém rất nhiều nhưng hiệu quả rất thấp. Với những tiến bộ trong nông nghiệp như hiện nay ở Việt Nam về kỹ thuật, việc sản xuất nông sản an toàn là hoàn toàn có thể. Nhưng ta cứ tập trung vào kỹ thuật, hướng dẫn, xây dựng mô hình sản xuất mà sản phẩm làm ra không thể tiêu thụ được. Mấu chốt không phải là vấn đề kỹ thuật sản xuất mà là tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, nếu không có thị trường sẽ không có động lực để sản xuất. Việc chứng nhận điều kiện sản xuất theo VietGAP, và chứng nhận điều kiện sản xuất đảm bảo an toàn thực phẩm của các Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chỉ có nghĩa là sau khi nhận được chứng chỉ, các tổ chức, cá nhân phải có trách nhiệm sản xuất ra sản phẩm an toàn theo quy trình đã được công nhận, và người sản xuất phải tự chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm đó khi bán ra thị trường; tổ chức, cá nhân buôn bán và cung ứng hàng hóa phải đảm bảo tính minh bạch, để có thể truy xuất được nguồn gốc sản phẩm của mình bán ra. Nhưng chứng nhận điều kiện sản xuất VietGAP và điều kiện sản xuất đảm bảo an toàn thực phẩm bị nhiều nhà sản xuất cố tình hiểu là “chứng nhận sản phẩm an toàn”. Thực chất đó chỉ là “chứng nhận một quy trình sản xuất an toàn”. Đây là một vấn đề rất quan trọng mà lâu nay chúng ta chưa làm rõ để xác định trách nhiệm của người sản xuất với sản phẩm của mình. Một trong những nguyên nhân khiến thực phẩm sạch vẫn không tìm được đầu ra trong khi người tiêu dùng không tìm được nguồn thực phẩm đảm bảo là do thiếu liên kết chuỗi: người nông dân chỉ biết sản xuất trong khi thiếu một hệ thống phân phối tin cậy khiến người tiêu dùng vẫn không thể tiếp cận được. Về phía người tiêu dùng thì họ cần có lòng tin vào sản phẩm an toàn, sản phẩm an toàn phải được nhận biết dễ dàng, có xuất xứ tin cậy, được giám sát chặt chẽ. Và nếu cần, chính người tiêu dùng cũng có thể tham gia truy xuất được nguồn gốc nông sản. Bộ Nông nghiệp và Phát triền nông thôn đã ban hành quyết định xây dựng và phát triển mô hình chuỗi cung cấp thực phẩm nông lâm thủy sản an toàn trên phạm vi toàn quốc từ năm 2013, nhưng cho đến năm 2016 Bộ mới ban hành tiếp hướng dẫn xác nhận sản phẩm chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn, trong đó quy định sản phẩm an toàn phải có xuất xứ rõ ràng, được sản xuất và vận chuyển từ các tổ chức đảm bảo điều kiện an toàn thực phẩn, được chứng nhận bởi các tổ chức có thẩm quyền. Nhưng cho đến nay vấn đề kỹ thuật cốt lõi của thực phẩm an toàn là ngưỡng an toàn, kỹ thuật truy xuất nguồn gốc, cơ chế giám sát hệ thống đảm bảo chất lượng và an toàn thực phẩm còn nhiều tranh luận.

„Ngưỡng an toàn“ hay Quy định giới hạn tối đa ô nhiễm sinh học và hóa học trong thực phẩm được Bộ Y tế ban hành từ năm 2007, đã qua sáu lần điều chỉnh, không được cập nhật vào một văn bản tổng thể, và quan trọng hơn, không được chi tiết hóa cho từng loại thực phẩm. Những vụ việc như hàng tấn xúc xích ban đầu bị tịch thu do hàm lượng chất gây hại vượt phép nhưng sau đó hồi kiểm thì vẫn trong “ngưỡng cho phép” của quốc tế, vụ nước giải khát có nhiễm chì, vụ nước mắm nhiễm arsen, làm người tiêu dùng thực sự bối rối với việc giữa các cơ quan quản lý nhà nước đã không có sự liên thông, không có sự thống nhất về danh sách các chất cấm dùng, danh sách các chất cho phép dùng và “ngưỡng cho phép” các chất có thể gây hại. Theo PGS. TS. Nguyễn Hữu Đức, khi các cơ quan quản lý nhà nước còn lúng túng thì làm sao đòi hỏi người tiêu dùng “thông minh” chọn lựa sản phẩm an toàn cho mình.

Việc truy xuất nguồn gốc nông sản là rất quan trọng để tạo niềm tin cho người tiêu dùng và xuất khẩu nông sản. Quá trình truy xuất nông sản phụ thuộc vào việc quản trị các công đoạn và hồ sơ của sản phẩm từ sản xuất đến tiêu thụ. Nhưng rất ít doanh nghiệp tổ chức và kiếm soát được toàn bộ công đoạn của sản phẩm, nên chưa thể nói tới việc quản lý hồ sơ của chuỗi sản phẩm liên tục, xuyên xuốt, dễ dàng truy cập và truy xuất nguồn gốc. Các nhà quản lý đã quan tâm đến việc truy xuất nguồn gốc nông sản với việc kiểm tra các điều kiện sản xuất an toàn thực phẩm, kiểm tra vật tư nông nghiệp phục vụ sản xuất, kiểm tra việc thực hiện quy trình sản xuất, lấy mẫu phân tích tại cơ sở và trên thị trường. Các biện pháp này chưa phát huy được tác dụng kiểm soát và truy xuất nguồn gốc nông sản vì chỉ làm được với mẫu sản phẩm rời rạc, không thể đại diện cho lô sản phẩm và quá trình tham gia vào các công đoạn sản xuất của các tổ chức khác nhau. Đề án soi thịt heo bằng điện thoại thông minh tại thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn những vấn đề bỏ ngỏ. Theo đề án này, khi heo xuất chuồng, chủ trang trại sẽ đeo hai vòng nhận diện nguồn gốc vào hai chân heo, kích hoạt để theo dõi từ trang trại đến lò giết mổ, xẻ thịt, về chợ đầu mối, hệ thống siêu thị, chợ lẻ, điểm bán. Tại những điểm bán, tiểu thương sẽ kích hoạt tem nhận diện trên mỗi miếng thịt. Người tiêu dùng có thể dùng điện thoại thông minh đã được cài đặt ứng dụng đọc mã vạch trên tem truy xuất nguồn gốc thịt heo. Những thông tin được cung cấp bao gồm tên trang trại/lò giết mổ, thời gian xuất trại, thời gian giết mổ, quầy sạp nhập vào…Tuy vậy, nhiều người tỏ ra băn khoăn khi việc đeo vòng chỉ được tiến hành khi heo xuất chuồng nên chỉ truy xuất được lô heo, trại heo chứ chưa truy xuất được từng con heo. Điều này gây lo ngại rằng chất lượng heo vẫn chưa được kiểm soát, heo vẫn có thể được cho ăn chất cấm, bơm nước… Như vậy, vấn đề mấu chốt của chất lượng thịt heo an toàn vẫn chưa giải quyết được. Chưa kể, nhiều người nuôi heo quy mô vài chục con nhờ thương lái trà trộn với heo trại khác, vì thế có tem nhưng chưa chắc thịt đó “chuẩn”. Trung tâm xúc tiến thương mại nông nghiệp Hà Nội bắt đầu thí điểm truy xuất nguồn gốc nông sản bằng điện thoại thông minh. Người tiêu dùng cần tải phần mềm trên điện thoại, đăng nhập và khai báo tên cùng số điện thoại, đặt điện thoại trước sản phẩm để chụp và quét mã code, người dùng sẽ thấy trên giao diện thiết bị hình ảnh và thông tin về sản phẩm như nơi sản xuất, giấy chứng nhận và kênh phân phối, cơ sở sản xuất. Doanh nghiệp khi đăng tải sản phẩm đều phải kết nối hệ thống với cơ quan quản lý thông tin về sản phẩm như nơi sản xuất, giấy chứng nhận và kênh phân phối, cơ sở sản xuất chịu trách nhiệm và phải cam kết sản phẩm, thông tin chuyển tải cho đơn vị quản lý chính xác. Trong quá trình lưu thông nếu chất lượng có vấn đề thì doanh nghiệp chịu hoàn toàn trách nhiệm. Trung tâm chỉ giúp minh bạch thông tin trên nền tảng các sản phẩm đã có giấy chứng nhận, chứ không quản lý chất lượng. Như vậy quá trình tạo sản phẩm và quá trình lưu thông sản phẩm vẫn không được làm rõ, tức là vấn đề truy xuất nguồn gốc nông sản chưa được giải quyết. Những cách làm này dường như đẩy trách nhiệm kiểm soát chất lượng sản phẩm cho người tiêu dùng, họ phải tự kiểm tra và lựa chọn sản phẩm. Và nếu chỉ kiểm tra sản phẩm với thông tin tĩnh về xuất sứ hàng hóa, không quản lý tốt tem nhãn, thì vẫn có nguy cơ hàng giả trà trộn và không truy xét được quá trình tạo ra chất lượng sản phẩm trong sản xuất, gây nghi ngờ về khả năng của công nghệ, không củng cố được lòng tin người tiêu dùng.

Tập trung giải quyết yếu tố kỹ thuật để mở lối thực thi chính sách xây dựng chuỗi nông sản thực phẩm an toàn của nhà nước là niềm mong mỏi của mọi người dân.

Phương Thạch